Không thể nhìn vào một hệ thống tiếp địa rồi biết nó đang có điện trở bao nhiêu.
Muốn biết chính xác, phải đo thực tế bằng thiết bị đo phù hợp.
Với một hệ thống chống sét, quy trình cơ bản thường là:
| 01 Kiểm tra hệ thống hiện có |
→ | 02 Chọn phương pháp đo |
→ | 03 Tiến hành đo |
→ | 04 Đánh giá kết quả |
→ | 05 Lập biên bản đo |
Điều quan trọng nhất là kết quả đo phải phản ánh đúng hệ thống cần kiểm tra, chứ không phải chỉ cầm máy lên đo một lần rồi ghi ra một con số.

I. Trước khi đo cần kiểm tra những gì?
Trước tiên phải biết đang đo hệ thống nào.
Một công trình có thể có:
- Hệ thống chống sét
- Tiếp địa an toàn điện
- Tiếp địa thiết bị
- Các hệ thống điện khác liên kết với nhau
Nếu không xác định rõ hệ thống cần kiểm tra, kết quả đo có thể bị hiểu sai.
Người đo cũng cần kiểm tra tình trạng thực tế:
- Cọc tiếp địa
- Dây dẫn
- Mối nối
- Hộp kiểm tra
- Điểm kết nối
- Sơ đồ hệ thống nếu có
TCVN 9385:2012 không chỉ yêu cầu đo điện trở nối đất mà còn yêu cầu kiểm tra tình trạng các dây dẫn và mối nối của hệ thống.
II. Dùng thiết bị gì để đo điện trở tiếp địa?
Thông thường sẽ sử dụng máy đo điện trở đất/điện trở tiếp địa chuyên dụng.
Tùy cấu hình công trình và phương pháp đo, thiết bị có thể sử dụng:
- Cọc đo phụ
- Dây đo
- Kìm đo chuyên dụng
- Hoặc phương pháp đo phù hợp khác
Các thiết bị đo hiện nay hỗ trợ nhiều phương pháp như đo 3 cực, 4 cực, đo chọn lọc và đo không cần cọc trong những trường hợp phù hợp.
Khách hàng không cần quá quan tâm đến tên model của máy.
Điều quan trọng hơn là:
Phương pháp đo có phù hợp với hệ thống đang kiểm tra hay không.
III. Phương pháp đo phổ biến là gì?
Với hệ thống tiếp địa độc lập, một phương pháp phổ biến là đo điện áp rơi với các cọc đo phụ.
Hiểu đơn giản, máy đo sẽ tạo điều kiện để kiểm tra khả năng dẫn dòng của hệ thống tiếp địa và tính ra giá trị điện trở.
Không cần hiểu sâu về mạch đo để đọc kết quả.
Điều khách hàng nên biết là:
Vị trí đặt các cọc đo và cách thực hiện phép đo có ảnh hưởng đến kết quả.
Vì vậy, không phải cứ cắm cọc ở bất kỳ đâu rồi bấm máy là có một kết quả đáng tin.
Các máy đo chuyên dụng của Fluke hiện hỗ trợ phương pháp điện áp rơi 3 và 4 cọc, cùng những phương pháp khác tùy cấu hình hệ thống.
IV. Vì sao phải đặt cọc đo phụ?
Trong phương pháp đo điện áp rơi, các cọc phụ được bố trí cách xa điện cực của hệ thống cần kiểm tra.
Mục đích là tạo điều kiện để máy đo đánh giá điện trở của hệ thống tiếp địa so với đất xung quanh.
Nếu bố trí không phù hợp, vùng ảnh hưởng của các điện cực có thể chồng lấn và làm kết quả không còn đáng tin.
Nói đơn giản:
Đo điện trở tiếp địa không chỉ là “đo ở cọc tiếp địa”, mà phải tạo được một phép đo đúng điều kiện.
Đây cũng là lý do việc đo thực tế nên được thực hiện bởi người có thiết bị và kinh nghiệm phù hợp.
V. Có phải công trình nào cũng đo giống nhau?
Không.
Đây là điểm rất quan trọng.
1. Hệ thống đơn giản
Một hệ thống tiếp địa độc lập, dễ tiếp cận có thể sử dụng phương pháp đo điện áp rơi truyền thống.
2. Công trình có nhiều hệ thống nối với nhau
Nhà xưởng, tòa nhà hoặc công trình lớn có thể có nhiều điểm tiếp địa liên kết.
Khi đó, phương pháp đo cần được lựa chọn sao cho không bị ảnh hưởng bởi những đường dẫn song song ngoài ý muốn.
Trong những trường hợp như vậy, có thể cần phương pháp đo chọn lọc hoặc phương pháp khác phù hợp với cấu hình thực tế. Các máy đo chuyên dụng hiện hỗ trợ cả phép đo chọn lọc cho những hệ thống có nhiều đường nối đất.
VI. Đo xong được con số bao nhiêu là đạt?
Đây là câu khách hàng thường hỏi nhất.
Nhưng quy trình đúng là:
Đo → ghi nhận → so sánh với yêu cầu áp dụng → đánh giá hệ thống.
Với hệ thống chống sét công trình, TCVN 9385:2012 nêu mốc không vượt quá 10Ω đối với mạng nối đất tổng hợp của hệ thống chống sét, đồng thời yêu cầu ghi nhận và theo dõi kết quả qua các lần kiểm tra.
Nếu muốn hiểu rõ hơn về con số này, xem:
Điện trở tiếp địa chống sét bao nhiêu là đạt?
Điểm quan trọng là không nên chỉ ghi một con số rồi kết thúc.
Ví dụ:
Lần trước: 5Ω
Lần này: 9Ω
Vẫn dưới 10Ω, nhưng hệ thống đã thay đổi khá nhiều.
TCVN 9385 cũng yêu cầu theo dõi sự thay đổi của kết quả qua các lần kiểm tra.
VII. Nếu đo hôm nay được 6Ω thì hệ thống chắc chắn tốt?
Chưa thể kết luận chỉ từ 6Ω.
Ngoài giá trị điện trở, còn phải xem:
- Dây dẫn có còn nguyên không?
- Mối nối có tốt không?
- Các điện cực có còn liên kết không?
- Hệ thống có bị ăn mòn không?
- Công trình có thay đổi không?
- Kết quả có khác nhiều so với lần trước không?
Một con số đẹp nhưng hệ thống có dây dẫn bị đứt hoặc mối nối xuống cấp thì vẫn là vấn đề.
Vì vậy, đo điện trở chỉ là một phần của việc kiểm tra hệ thống chống sét.
VIII. Nếu kết quả cao thì làm gì?
Không nên lập tức kết luận:
“Cứ đóng thêm cọc.”
Trước tiên cần tìm nguyên nhân.
Có thể do:
- Hệ thống điện cực chưa phù hợp
- Đất có điện trở suất cao
- Cọc hoặc dây bị ăn mòn
- Mối nối kém
- Dây dẫn bị hư
- Hệ thống đã thay đổi so với ban đầu
Sau đó mới chọn phương án cải thiện.
Có thể là bổ sung điện cực, thay đổi cấu hình hoặc sửa phần liên kết tùy tình trạng thực tế.
Nếu cần xử lý trường hợp này, xem:
Hệ thống chống sét không đạt điện trở phải xử lý thế nào?
IX. Công trình lớn có thể đo bằng kìm đo tiếp địa không?
Có những trường hợp có thể dùng phương pháp kìm đo, nhưng không phải công trình nào cũng phù hợp.
Phương pháp này có thể hữu ích với một số hệ thống có nhiều đường nối đất song song và cấu hình phù hợp.
Nhưng nếu hệ thống không đáp ứng điều kiện của phương pháp, không thể cứ kẹp máy vào một dây rồi xem con số trên màn hình là điện trở của toàn bộ hệ thống.
Các thiết bị đo hiện đại có cả phương pháp đo kìm/không cọc và phương pháp đo bằng cọc; lựa chọn nào phù hợp phụ thuộc vào cấu hình thực tế.
X. Sau khi đo cần nhận được gì?
Đây là phần khách hàng nên yêu cầu rõ.
Sau khi kiểm tra, nên có kết quả đo được ghi lại, tối thiểu thể hiện:
- Công trình hoặc vị trí đo
- Hệ thống được kiểm tra
- Ngày đo
- Giá trị đo
- Thiết bị/phương pháp đo nếu cần
- Người thực hiện
- Đánh giá kết quả
TCVN 9385:2012 yêu cầu kết quả kiểm tra phải được ghi chép, trong đó có giá trị điện trở nối đất và tình trạng của các dây dẫn, mối nối liên quan.
Như vậy, vài năm sau có thể lấy kết quả cũ ra so sánh với kết quả mới.
XI. Bao lâu nên đo lại?
Đừng hiểu rằng đo một lần lúc mới thi công là xong mãi mãi.
TCVN 9385:2012 đưa ra việc kiểm tra định kỳ và nêu rằng việc đo kiểm nên được thực hiện định kỳ, tốt nhất không quá 12 tháng; ngoài ra cần kiểm tra lại khi hệ thống có thay đổi đáng kể.
Đặc biệt nên kiểm tra lại khi:
- Công trình vừa bị sét đánh
- Nhà xưởng vừa mở rộng
- Thay đổi mái hoặc kết cấu
- Lắp thêm điện mặt trời
- Hệ thống tiếp địa đã lâu chưa kiểm tra
- Kết quả đo có xu hướng tăng
- Thiết bị thường xuyên gặp sự cố sau mưa giông
XII. Một lần đo có thể cho biết toàn bộ tình trạng hệ thống không?
Không phải lúc nào cũng đủ.
Nếu công trình nhỏ, hệ thống đơn giản và độc lập thì một phép đo phù hợp có thể cho kết quả rất hữu ích.
Nhưng với nhà máy, kho xưởng hoặc công trình có nhiều hệ thống liên kết, cần nhìn thêm:
| Điện trở Kết quả đo bao nhiêu? |
+ | Liên kết Dây và mối nối còn tốt không? |
+ | Hiện trạng Hệ thống có thay đổi không? |
+ | Lịch sử Kết quả trước đây thay đổi thế nào? |
Đây mới là cách đánh giá có giá trị hơn việc chỉ nhìn một con số trên màn hình máy đo.
XIII. Khách hàng cần chuẩn bị gì khi đo tiếp địa?
Không cần chuẩn bị quá nhiều.
Chủ công trình nên cung cấp:
Sơ đồ hệ thống nếu có.
Thông tin về các điểm tiếp địa hiện tại.
Kết quả đo những lần trước nếu còn lưu.
Thông tin về những thay đổi gần đây của công trình.
Ví dụ nhà xưởng vừa lắp điện mặt trời hoặc xây thêm kho thì nên thông báo cho người kiểm tra, vì những thay đổi đó có thể ảnh hưởng đến cách đánh giá hệ thống.
XIV. Kết luận
Quy trình đo điện trở tiếp địa chống sét không đơn giản là cắm máy vào một cọc rồi đọc một con số.
Một phép đo đáng tin cần:
Kiểm tra hệ thống → chọn phương pháp phù hợp → thực hiện phép đo đúng cách → đánh giá kết quả → ghi nhận và lưu hồ sơ.
Với hệ thống chống sét công trình, TCVN 9385:2012 đưa ra mốc 10Ω cho mạng nối đất tổng hợp và yêu cầu theo dõi kết quả qua các lần kiểm tra.
Nếu kết quả cao, đừng vội đóng thêm cọc. Trước tiên cần tìm nguyên nhân để biết nên sửa, bổ sung hay cải tạo phần nào.
Và quan trọng nhất:
Một kết quả đo chỉ thực sự có giá trị khi biết nó được đo đúng hệ thống, đúng phương pháp và trong điều kiện phù hợp.
